Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm ♦ Quyển 21

☸ Phẩm 22: Mười Tạng Vô Tận


Lúc bấy giờ Công Đức Lâm Bồ-tát lại nói với các vị Bồ-tát rằng:

"Phật tử! Đại Bồ-tát có mười loại tạng mà chư Phật thuở quá khứ, hiện tại, cùng vị lai đã nói, đang nói, và sẽ nói. Những gì là mười? Đó là:

[1] Tín Tâm Tạng
[2] Trì Giới Tạng
[3] Hữu Tàm Tạng
[4] Hữu Quý Tạng
[5] Đa Văn Tạng
[6] Bố Thí Tạng
[7] Trí Tuệ Tạng
[8] Chánh Niệm Tạng
[9] Văn Trì Tạng
[10] Biện Tài Tạng

Đây là mười.

❖


Phật tử! Thế nào là Tín Tâm Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này:
- tin tất cả pháp là không,

- tin tất cả pháp là vô tướng,

- tin tất cả pháp là vô nguyện,

- tin tất cả pháp là vô tác,

- tin tất cả pháp lìa phân biệt,

- tin tất cả pháp chẳng chỗ nương,

- tin tất cả pháp bất khả lượng,

- tin tất cả pháp không gì cao hơn,

- tin tất cả pháp khó siêu việt,

- và tin tất cả pháp là không sanh.


Nếu Bồ-tát nào có thể tùy thuận hết thảy pháp như thế và đã sanh tín tâm thanh tịnh rồi:

- khi nghe các Pháp của Phật là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe hết thảy chư Phật là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe cõi giới của chúng sanh là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe Pháp Giới là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe hư không là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe cõi giới của tịch diệt là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe quá khứ là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe vị lai là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe hiện tại là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược;

- khi nghe vào tất cả kiếp là chẳng thể nghĩ bàn, tâm ngài không khiếp nhược.


Vì sao thế? Bởi vị Bồ-tát này nhất hướng vững tin ở chư Phật. Ngài biết trí tuệ của Phật là vô biên vô tận. Ngài biết mười phương có vô lượng thế giới và trong mỗi một thế giới [ở ba đời] có vô lượng chư Phật đã đắc, đang đắc, và sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đã xuất hiện ở thế gian, đang xuất hiện ở thế gian, và sẽ xuất hiện ở thế gian, đã vào tịch diệt, đang vào tịch diệt, và sẽ vào tịch diệt. Ngài biết trí tuệ của chư Phật kia là không tăng, không giảm, không sanh, không diệt, không tiến, không thoái, không gần, không xa, không hiểu biết, và không xả bỏ.

Vị Bồ-tát này vào trí tuệ của Phật và thành tựu niềm tin vô biên vô tận. Khi đã được niềm tin này, tâm của ngài không thoái chuyển, không tạp loạn, không gì có thể phá hoại, và không chỗ nhiễm trước. Ngài luôn có nền tảng, tùy thuận thánh nhân, trụ trong gia tộc của Như Lai, gìn giữ mạng mạch của tất cả chư Phật, tăng trưởng tín giải của tất cả Bồ-tát, tùy thuận căn lành của tất cả Như Lai, và sanh ra phương tiện của tất cả chư Phật.

Đây gọi là tạng thứ nhất của đại Bồ-tát: Tín Tâm Tạng.

Bồ-tát trụ ở tạng của tín tâm này liền có thể nghe nhớ hết thảy Pháp của Phật và thuyết Pháp cho chúng sanh để khiến họ đều khai ngộ.

❖


Phật tử! Thế nào là Trì Giới Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này thành tựu:
- giới lợi ích tất cả,

- giới không thọ nhận,

- giới không trụ,

- giới không hối hận,

- giới không tranh đấu,

- giới không tổn hại,

- giới không tạp uế,

- giới không tham cầu,

- giới không lỗi lầm,

- và giới không hủy phạm,


Sao gọi là giới lợi ích tất cả?

Vị Bồ-tát này thọ trì tịnh giới vốn là vì lợi ích cho hết thảy chúng sanh.

Sao gọi là giới không thọ nhận?

Vị Bồ-tát này chẳng thọ nhận thực hành bất kỳ giới nào của ngoại đạo, mà tự tánh chỉ tinh tấn phụng trì tịnh giới bình đẳng của chư Phật Như Lai ở ba đời.

Sao gọi là giới không trụ?

Khi vị Bồ-tát này thọ trì giới, tâm ngài chẳng trụ ở cõi dục, chẳng trụ ở cõi sắc, và chẳng trụ ở cõi vô sắc.

Vì sao thế? Bởi ngài chẳng cầu sanh về nơi kia mà trì giới.

Sao gọi là giới không hối hận?

Vị Bồ-tát này luôn được an trụ với tâm chẳng hối hận.

Vì sao thế? Bởi ngài chẳng gây tạo trọng tội, chẳng tiến hành nịnh hót dối trá, và chẳng phá hủy tịnh giới.

Sao gọi là giới không tranh đấu?

Vị Bồ-tát này chẳng xem những quy chế trước kia là sai và chẳng tạo lập thêm cái mới. Tâm ngài luôn tùy thuận các giới hướng về tịch diệt, thọ trì trọn vẹn, và không có chỗ nào hủy phạm. Ngài chẳng dùng sự trì giới của mình để não loạn những chúng sanh khác. Thay vào đó, ngài chỉ nguyện cho mọi người luôn vui vẻ mà thọ trì giới.

Sao gọi là giới không tổn hại?

Vị Bồ-tát này chẳng nhân bởi giới mà học các chú thuật và tạo ra phương thuốc để não hại chúng sanh. Thay vào đó, ngài chỉ vì cứu hộ hết thảy chúng sanh mà thọ trì giới.

Sao gọi là giới không tạp uế?

Vị Bồ-tát này chẳng chấp trước những kiến giải lệch lạc và chẳng trì giới hỗn tạp. Thay vào đó, ngài chỉ quán duyên khởi và trì giới xuất ly.

Sao gọi là giới không tham cầu?

Vị Bồ-tát này chẳng hiện ra tướng khác lạ để khoe phẩm đức của mình. Thay vào đó, ngài chỉ vì mãn túc Pháp xuất ly mà thọ trì giới.

Sao gọi là giới không lỗi lầm?

Vị Bồ-tát này chẳng cao ngạo tự đại mà nói rằng, 'Tôi trì giới', và khi thấy có người phá giới cũng chẳng khinh khi hay hủy báng để khiến họ cảm thấy xấu hổ. Thay vào đó, ngài chỉ vì muốn tâm của mình chuyên nhất mà thọ trì giới.

Sao gọi là giới không hủy phạm?

Vị Bồ-tát này vĩnh viễn đoạn trừ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác, nói thêu dệt, tham dục, sân hận, và si mê. Thay vào đó, ngài thọ trì trọn vẹn Mười Nghiệp Lành.

Khi Bồ-tát trì giới không hủy phạm này, ngài nghĩ như vầy:

'Khi có chúng sanh nào hủy phạm tịnh giới, đây đều do là điên đảo. Duy chỉ có chư Phật Thế Tôn mới có thể biết chúng sanh vì nhân duyên gì mà sanh điên đảo và hủy phạm tịnh giới. Ta nên thành tựu Đạo vô thượng và rộng thuyết giảng Pháp chân thật cho chúng sanh để khiến họ lìa khỏi điên đảo.'

Đây gọi là tạng thứ nhì của đại Bồ-tát: Trì Giới Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Hữu Tàm Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này nhớ lại những việc làm ác ở quá khứ mà sanh lòng xấu hổ.

Đó là nói, vị Bồ-tát ấy tự nghĩ thầm:

'Từ vô thỉ cho đến nay, ta cùng với các chúng sanh đều hỗ tương mà làm cha, mẹ, anh trai, em trai, chị gái, em gái, con trai, hoặc con gái. Trong thời gian đó, do bởi tràn đầy tham sân si, kiêu mạn, nịnh hót dối trá, và tất cả mọi phiền não khác mà chúng ta não hại lẫn nhau, thay phiên lấn hiếp hoặc cướp đoạt lẫn nhau, gian dâm, gây thương tổn, và cùng nhau giết hại--không việc ác gì mà chẳng làm. Hết thảy những chúng sanh khác thì cũng đều như vậy. Do bởi các phiền não mà họ gây tạo đủ mọi điều ác.

Cho nên chúng ta ai nấy chẳng cung kính lẫn nhau, chẳng tôn trọng lẫn nhau, chẳng vâng lời lẫn nhau, chẳng khiêm hạ lẫn nhau, chẳng giãi bày hay hướng dẫn lẫn nhau, và chẳng bảo hộ hay quý mến lẫn nhau, mà cùng nhau giết hại và hỗ tương kết oán thù.

Như ta tự tư duy về bản thân và các chúng sanh ở quá khứ, hiện tại, cùng vị lai làm ra những điều xấu hổ, ta nhận thức rằng chư Phật ở ba đời không gì mà chẳng thấy biết. Bây giờ nếu ta chẳng đoạn trừ những hành vi không biết xấu hổ như thế, thì chư Phật ở ba đời cũng sẽ thấy ta. Ta sao lại có thể tiếp tục làm mà chẳng đình chỉ? Đây thật không thể tưởng tượng được. Bởi vậy ta nên chuyên tâm đoạn trừ chúng, rồi chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và rộng giảng Pháp chân thật cho chúng sanh.'

Đây gọi là tạng thứ ba của đại Bồ-tát: Hữu Tàm Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Hữu Quý Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này tự hổ thẹn đối với đủ mọi tham cầu ở trong năm dục từ xưa cho đến nay mà lòng chẳng biết đủ. Nhân đó mà tăng trưởng tham sân si và hết thảy phiền não.

[Ngài nghĩ:]

'Ta bây giờ không nên tiếp tục làm việc này nữa.'

Ngài lại nghĩ như vầy:

'Chúng sanh không có sự hiểu biết nên khởi sanh mọi phiền não và làm đủ mọi điều ác. Họ chẳng cung kính lẫn nhau, chẳng tôn trọng lẫn nhau, và thậm chí triển chuyển hỗ tương kết oán thù. Không một việc ác nào như thế mà họ chẳng gây tạo. Khi đã gây tạo rồi, họ mừng rỡ mà truy cầu được ngợi khen cho các việc đó. Với con mắt mù lòa không trí tuệ, họ hoàn toàn chẳng thấy biết gì.

Khi đã vào trong bụng mẹ, họ thọ sanh, trưởng thành thân cấu uế, và cuối cùng cho đến tóc bạc với khuôn mặt nhăn nheo. Những ai có trí tuệ mà quán sát việc này thì thấy rằng nó chỉ là pháp bất tịnh sanh ra từ dâm dục.

Đây là những điều mà chư Phật ở ba đời thảy đều thấy biết. Nếu ta bây giờ vẫn còn hành sự như thế, tức là lừa dối chư Phật ở ba đời. Cho nên ta phải tu hành hổ thẹn, rồi mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và rộng giảng Pháp chân thật cho chúng sanh.'

Đây gọi là tạng thứ tư của đại Bồ-tát: Hữu Quý Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Đa Văn Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này biết:
- do có việc này nên có việc kia;

- do không có việc này nên không có việc kia;

- do khởi sanh việc này nên khởi sanh việc kia;

- do chấm dứt việc này nên chấm dứt việc kia;

- đây là pháp thế gian;

- đây là Pháp xuất thế;

- đây là pháp hữu vi;

- đây là Pháp vô vi;

- đây là pháp đã xác định;

- và đây là pháp chưa xác định.


Sao gọi là do có việc này nên có việc kia?

Đó là do có vô minh nên có hành.

Sao gọi là do không có việc này nên không có việc kia?

Đó là do không có thức nên không có sắc.

Sao gọi là khởi sanh việc này nên khởi sanh việc kia?

Đó là do khởi sanh ái nên khởi sanh khổ.

Sao gọi là do chấm dứt việc này nên chấm dứt việc kia?

Đó là do chấm dứt của tồn tại nên chấm dứt của sanh ra.

Sao gọi là pháp thế gian?

Đó là sắc thọ tưởng hành thức.

Sao gọi là Pháp xuất thế?

Đó là giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.

Sao gọi là pháp hữu vi?

Đó là cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, và cõi giới của chúng sanh.

Sao gọi là Pháp vô vi?

Đó là hư không, tịch diệt, sổ duyên diệt, phi sổ duyên diệt, duyên khởi, và pháp tánh trụ.

Sao gọi là pháp đã xác định?

Đó là:
- Bốn Thánh Đế,

- Bốn Quả Đạo Nhân,

- Bốn Vô Ngại Giải,

- Bốn Không Sợ Hãi,

- Bốn Niệm Trụ,

- Bốn Chánh Cần,

- Bốn Như Ý Túc,

- Năm Căn,

- Năm Lực,

- Bảy Giác Phần,

- và Tám Chánh Đạo.


Sao gọi là pháp chưa xác định?

Đó là:
- có phải thế gian là có giới hạn, thế gian là không giới hạn, thế gian vừa có giới hạn mà cũng không giới hạn, hoặc thế gian chẳng phải có giới hạn mà cũng chẳng phải không giới hạn;

- có phải thế gian là hữu thường, thế gian là vô thường, thế gian vừa là hữu thường mà cũng là vô thường, hoặc thế gian chẳng phải là hữu thường mà cũng chẳng phải là vô thường;

- có phải Như Lai tồn tại sau khi diệt độ, Như Lai không tồn tại sau khi diệt độ, Như Lai vừa tồn tại mà cũng không tồn tại sau khi diệt độ, hoặc Như Lai chẳng phải tồn tại mà cũng chẳng phải không tồn tại sau khi diệt độ;

- có phải chính mình và chúng sanh tồn tại, chính mình và chúng sanh không tồn tại, chính mình và chúng sanh vừa tồn tại mà cũng không tồn tại, hoặc chính mình và chúng sanh chẳng phải tồn tại mà cũng chẳng phải không tồn tại;

- có bao nhiêu Như Lai đã vào Cứu Cánh Tịch Diệt ở quá khứ;

- có bao nhiêu Thanh Văn và Độc Giác đã vào tịch diệt ở quá khứ;

- có bao nhiêu Như Lai, có bao nhiêu Thanh Văn, có bao nhiêu Độc Giác, và có bao nhiêu chúng sanh ở vị lai;

- có bao nhiêu Như Lai, có bao nhiêu Thanh Văn, có bao nhiêu Độc Giác, và có bao nhiêu chúng sanh đang trụ ở hiện tại;

- vị Như Lai nào xuất hiện trước tiên ở thế gian;

- các vị Thanh Văn và Độc Giác nào xuất hiện trước tiên ở thế gian;

- những chúng sanh nào xuất hiện trước tiên ở thế gian;

- vị Như Lai nào xuất hiện cuối cùng ở thế gian;

- các vị Thanh Văn và Độc Giác nào xuất hiện cuối cùng ở thế gian;

- những chúng sanh nào xuất hiện cuối cùng ở thế gian;

- pháp nào ở tối sơ;

- pháp nào ở sau cuối;

- thế gian từ đâu đến và sẽ đi về đâu;

- có bao nhiêu thế giới đã thành lập và có bao nhiêu thế giới đã hoại diệt;

- các thế giới từ đâu đến và sẽ đi về đâu;

- khi nào là bắt đầu ranh giới của sanh tử;

- và khi nào là kết thúc ranh giới của sanh tử.


Đây gọi là pháp chưa xác định.

Đại Bồ-tát nghĩ như vầy:

'Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử, không một ai mà có đa văn. Họ chẳng thể biết rõ hết thảy pháp. Ta nên phát tâm để thọ trì tạng của đa văn, rồi chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thuyết giảng Pháp chân thật cho các chúng sanh.'

Đây gọi là tạng thứ năm của đại Bồ-tát: Đa Văn Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Bố Thí Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này thực hành mười loại bố thí. Đó là:

[1] bố thí phân giảm
[2] bố thí hết sạch
[3] bố thí ở trong
[4] bố thí ở ngoài
[5] bố thí cả trong lẫn ngoài
[6] bố thí tất cả
[7] bố thí ở quá khứ
[8] bố thí ở vị lai
[9] bố thí ở hiện tại
[10] bố thí cứu cánh

Phật tử! Sao gọi là bố thí phân giảm của Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này bẩm tánh nhân từ và ưa thích làm huệ thí. Nếu được mỹ vị, ngài chẳng thọ dùng cho riêng mình mà cảm thấy cần phải chia sẻ với chúng sanh rồi sau đó mới ăn. Hễ nhận được bất cứ vật gì, ngài cũng đều làm như thế.

Khi tự mình dùng bữa, ngài nghĩ như vầy:

'Trong thân của ta có 80.000 hộ trùng đang nương nhờ mình để sống. Nếu thân ta vui vẻ no đủ, thì chúng cũng vui vẻ no đủ. Nếu thân ta bị đói làm khổ bức, thì chúng cũng bị đói làm khổ bức. Ta bây giờ thọ dùng toàn bộ ẩm thực này, xin nguyện khiến chúng sanh đều được no đủ.'

Vì bố thí cho họ, ngài tự mình dùng bữa mà không tham vị ngon.

Ngài lại nghĩ như vầy:

'Trong suốt đêm dài, ta yêu thích chấp trước cái thân này và muốn khiến nó no đủ mà thọ dùng ẩm thực. Bây giờ ta đang thọ dùng ẩm thực này và huệ thí cho chúng sanh, nguyện cho ta vĩnh viễn đoạn trừ tham trước nơi thân.'

Đây gọi là bố thí phân giảm.

Sao gọi là bố thí hết sạch của Bồ-tát?

Phật tử! Vị Bồ-tát này được đủ mọi ẩm thực thượng vị, hương hoa y phục, và những đồ dùng trong sinh hoạt khác. Nếu ngài thọ dụng cho mình thì sẽ sống lâu và an vui. Tuy nhiên, nếu ngài chẳng cho mình dùng mà đem bố thí cho người thì sẽ trở nên nghèo cùng khốn khổ rồi phải chết sớm.

Hoặc lúc nào đó có người sẽ đến nói với ngài rằng:

'Ngài bây giờ nên cho tôi mọi thứ ngài có.'

Bồ-tát tự nghĩ như vầy:

'Từ vô thỉ cho đến nay, ta do vì đói khát mà bị chôn thân nhiều vô số. Ta chưa từng có khi nào dù nhỏ như đầu sợi lông để làm lợi ích cho chúng sanh mà được lợi lành. Bây giờ ta cũng sẽ giống như thuở xưa mà xả bỏ tánh mạng này. Bởi vậy, vì làm lợi ích cho chúng sanh, ta đều từ bỏ tất cả mọi thứ mà mình có và thậm chí dùng cả tánh mạng này cũng không hề keo tiếc.'

Đây gọi là bố thí hết sạch.

Sao gọi là bố thí ở trong của Bồ-tát?

Phật tử! Giả sử vị Bồ-tát này chỉ mới tuổi trẻ tráng kiện, đoan chánh cực đẹp, và trang nghiêm thân mình với hương hoa y phục. Khi ấy ngài mới thọ quán đảnh của ngôi vị vua Chuyển Luân, đầy đủ bảy báu, và thống lãnh bốn châu thiên hạ.

Hoặc lúc nào đó có người sẽ đến nói với nhà vua rằng:

'Thưa đại vương! Ngài phải biết tôi nay đã già yếu, thân mang trọng bệnh, cô độc côi cút, gầy gò khốn đốn, và chẳng bao lâu nữa thì phải chết. Tuy nhiên, nếu được chân tay máu thịt cùng với đầu mắt xương tủy của đức vua thì thân mạng của tôi chắc chắn có hy vọng sống sót. Ngưỡng mong đại vương chớ suy ngẫm thêm nữa và lưu luyến tiếc nuối, mà hãy chỉ nhìn thấy niệm từ mẫn để bố thí cho tôi.'

Lúc bấy giờ Bồ-tát nghĩ như vầy:

'Về sau thân của ta tất phải chết mà sẽ chẳng có một lợi ích gì. Bây giờ chính là lúc và ta nên mau xả bỏ để cứu một chúng sanh.'

Khi đã nghĩ như thế, ngài liền bố thí ngay mà tâm không hề hối tiếc.

Đây gọi là bố thí ở trong.

Sao gọi là bố thí ở ngoài của Bồ-tát?

Phật tử! Giả sử vị Bồ-tát này chỉ mới tráng niên, trọn đủ các tướng cực đẹp, và trang nghiêm thân mình với hoa quý cùng y phục thượng hạng. Khi ấy ngài mới thọ quán đảnh của ngôi vị vua Chuyển Luân, đầy đủ bảy báu, và thống lãnh bốn châu thiên hạ.

Hoặc lúc nào đó có người sẽ đến nói với nhà vua rằng:

'Tôi nay bần cùng lam lũ và bị những thứ khổ bức bách. Ngưỡng mong đại vương nhân từ và rủ lòng xót thương đặc biệt mà từ bỏ vương vị để ban cho tôi. Như thế, tôi sẽ trở thành thống lãnh và thọ hưởng phước lạc của vua.'

Lúc bấy giờ Bồ-tát nghĩ như vầy:

'Hết thảy vinh quang và thịnh vượng tất rồi sẽ suy tàn. Một khi chúng đã suy tàn, ta sẽ chẳng thể làm lợi ích cho chúng sanh được nữa. Bây giờ chính là lúc và ta nên theo điều cầu mong của người kia mà toại ý mãn nguyện cho họ.'

Khi đã nghĩ như thế, ngài liền bố thí ngay mà tâm không hề hối tiếc.

Đây gọi là bố thí ở ngoài.

Sao gọi là bố thí cả trong lẫn ngoài của Bồ-tát?

Phật tử! Giả sử vị Bồ-tát này, như đã nói ở trên, trụ ở ngôi vị của vua Chuyển Luân, đầy đủ bảy báu, và thống lãnh bốn châu thiên hạ.

Hoặc lúc nào đó có người sẽ đến nói với nhà vua rằng:

'Đại vương ngự ở ngôi vị của vua Chuyển Luân này đã lâu rồi và tôi cũng chưa từng có được. Ngưỡng mong đại vương hãy từ bỏ nó cho tôi, và cũng như bản thân đại vương trở thành quần thần hoặc nô bộc của tôi.'

Lúc bấy giờ Bồ-tát nghĩ như vầy:

'Thân ta, tài bảo, và vương vị đều là vô thường, là các pháp dẫn đến suy bại và hoại diệt. Ta bây giờ tráng niên mạnh khỏe và tài phú gồm cả thiên hạ này. Khi có người đến xin xuất hiện trước mặt, ta nên dùng những gì chẳng kiên cố để cầu Pháp kiên cố.'

Khi đã nghĩ như thế, ngài liền bố thí ngay và cho đến dùng thân của mình để siêng làm nô dịch mà tâm không hề hối tiếc.

Đây gọi là bố thí cả trong lẫn ngoài.

Sao gọi là bố thí tất cả của Bồ-tát?

Phật tử! Giả sử vị Bồ-tát này, cũng như đã nói ở trên, trụ ở ngôi vị của vua Chuyển Luân, đầy đủ bảy báu, và thống lãnh bốn châu thiên hạ.

Bấy giờ có vô lượng kẻ bần cùng đi đến trước nhà vua và nói lời thế này:

'Danh xưng của đại vương vang khắp mười phương. Chúng tôi do vì ngưỡng mộ mà đến nơi đây. Chúng tôi ai nấy cũng có điều cầu mong. Xin đại vương hãy rủ khắp lòng từ mà khiến chúng tôi được mãn nguyện.'

Khi ấy những kẻ nghèo khổ từ vị đại vương kia mà xin quốc thổ, hoặc xin vợ con, hoặc xin tay chân, máu thịt tim phổi, hay đầu mắt tủy não.

Lúc bấy giờ Bồ-tát nghĩ như vầy:

'Hết thảy ân ái rồi sẽ phải biệt ly mà chúng đối với chúng sanh chẳng có lợi ích gì. Bây giờ vì muốn vĩnh viễn xả bỏ tham ái, ta dùng tất cả những thứ mà sẽ ly tan để mãn nguyện chúng sanh.'

Khi đã nghĩ như thế, ngài đều bố thí hết mà tâm không hề hối tiếc và cũng chẳng sanh chán ghét hay khinh rẻ đối với những chúng sanh kia.

Đây gọi là bố thí tất cả.

Sao gọi là bố thí ở quá khứ của Bồ-tát?

Khi vị Bồ-tát này đã nghe về toàn bộ công đức của chư Phật cùng Bồ-tát ở quá khứ, ngài không chấp trước chúng, liễu đạt rằng chúng chẳng phải tồn tại, không khởi phân biệt, không tham trước, không say đắm, và cũng không mong nắm giữ chúng. Ngài chẳng nương tựa ở bất cứ điều gì. Ngài thấy pháp như mộng và chẳng có kiên cố. Đối với những căn lành, ngài không khởi tưởng tồn tại và cũng không dựa vào chúng. Thay vào đó, ngài chỉ vì giáo hóa những chúng sanh vướng bởi nắm giữ và chấp trước mà diễn nói Pháp để họ được thành thục ở trong Pháp của Phật.

Ngài lại quán sát như vầy:

'Dù có ai mãi tìm kiếm các pháp ở quá khứ trong mười phương thì đều chẳng thể được.'

Khi đã nghĩ như thế, ngài cuối cùng xả bỏ tất cả pháp ở quá khứ.

Đây gọi là bố thí ở quá khứ.

Sao gọi là bố thí ở vị lai của Bồ-tát?

Khi vị Bồ-tát này đã nghe về những việc tu hành của chư Phật ở vị lai, ngài liễu đạt rằng chúng chẳng phải tồn tại, không nắm giữ nơi tướng của chúng, không đặc biệt thích vãng sanh về bất kỳ quốc độ nào của chư Phật kia, không say đắm, không tham trước, và cũng không sanh chán ghét chúng. Ngài chẳng dùng căn lành của mình để hồi hướng về nơi kia mà cũng chẳng rút lui căn lành của mình ở nơi kia. Thay vào đó, ngài luôn siêng tu hành mà chưa từng phế bỏ. Ngài chỉ muốn nhân bởi ở các cõi kia mà nhiếp thủ chúng sanh, thuyết Pháp chân thật, và khiến họ thành thục ở trong Pháp của Phật. Tuy nhiên, những pháp đó chẳng phải có xứ sở hay chẳng phải không có xứ sở, chẳng phải hướng trong hay chẳng phải hướng ngoài, và chẳng phải gần hay chẳng phải xa.

Ngài lại nghĩ như vầy:

'Nếu những pháp này chẳng phải tồn tại thì không thể xả bỏ.'

Đây gọi là bố thí ở vị lai.

Sao gọi là bố thí ở hiện tại của Bồ-tát?

Khi vị Bồ-tát này đã nghe về công đức trọn đủ của chư thiên ở tại:
- trời Tứ Thiên Vương;

- trời Tam Thập Tam;

- trời Thiện Thời;

- trời Hỷ Túc;

- trời Nhạo Biến Hóa;

- trời Tha Hóa Tự Tại;

- các cõi Phạm Thiên, gồm có trời Phạm Thân, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, và trời Đại Phạm;

- các cõi Quang Thiên, gồm có trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, và trời Quang Âm;

- các cõi Tịnh Thiên, gồm có trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, và trời Biến Tịnh;

- các cõi Quảng Thiên, gồm có trời Phước Sanh, trời Phước Ái, và trời Quảng Quả;

- trời Vô Phiền,

- trời Vô Nhiệt,

- trời Thiện Kiến,

- trời Thiện Hiện,

- trời Sắc Cứu Cánh,

và cho đến đã nghe về công đức trọn đủ của Thanh Văn cùng Duyên Giác, khi đã nghe hết như thế, tâm ngài không mê muội hay suy sụp và cũng không chú ý hay phân tán. Thay vào đó, ngài chỉ quán sát các hành chẳng thật như mộng và không hề tham trước. Vì khiến chúng sanh lìa bỏ các đường ác, tâm ngài lìa phân biệt mà tu Đạo Bồ-tát, thành tựu Pháp của Phật, rồi diễn nói Pháp cho họ.

Đây gọi là bố thí ở hiện tại.

Sao gọi là bố thí cứu cánh của Bồ-tát?

Phật tử! Giả sử có vô lượng chúng sanh đến chỗ của vị Bồ-tát này, trong số đó có người thì chẳng có mắt, hoặc chẳng có tai, hoặc chẳng có mũi, lưỡi, tay hay chân.

Họ thưa với Bồ-tát rằng:

'Chúng tôi phước mỏng với các căn khiếm khuyết. Ngưỡng mong ngài nhân từ, hãy dùng thiện xảo phương tiện mà xả bỏ những gì của mình để khiến chúng tôi hoàn chỉnh.'

Khi nghe rồi, Bồ-tát liền bố thí cho họ. Giả sử phải trải qua vô số kiếp với các căn không hoàn chỉnh thì tâm ngài cũng chẳng sanh một niệm hối tiếc. Thay vào đó, ngài chỉ quán sát thân của mình từ lúc mới vào thai với hình dáng cực nhỏ bất tịnh và phát triển các căn ở trong bào thai, là phải hướng đến sanh già bệnh chết.

Ngài lại quán sát thân này không có chân thật, không có xấu hổ hay hổ thẹn, và chẳng phải là vật của hiền thánh. Nó xú uế chẳng sạch, các đốt xương liên kết với nhau, máu thịt bao phủ, và chín lỗ luôn tiết ra đồ dơ bẩn mà người thấy gớm ghiếc.

Khi đã quán sát như thế rồi, tâm ngài không sanh một niệm khao khát mà chấp trước nó.

Ngài lại nghĩ như vầy:

'Thân này mỏng manh và chẳng có kiên cố. Ta bây giờ làm sao mà có thể lưu luyến chấp trước nó chứ? Ta nên dùng nó làm bố thí để thỏa mãn ước mong của họ. Bằng vào việc làm này, ta dùng đó mà chỉ dẫn tất cả chúng sanh để khiến họ chẳng sanh tham ái đối với thân tâm và chắc chắn được thành tựu trí thân thanh tịnh.'

Đây gọi là bố thí cứu cánh.

Đây gọi là tạng thứ sáu của đại Bồ-tát: Bố Thí Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Trí Tuệ Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này biết sắc đúng như thật, biết tích tập của sắc đúng như thật, biết chấm dứt của sắc đúng như thật, và biết con đường để chấm dứt của sắc đúng như thật.

Ngài biết thọ tưởng hành thức đúng như thật, biết tích tập của thọ tưởng hành thức đúng như thật, biết chấm dứt của thọ tưởng hành thức đúng như thật, và biết con đường để chấm dứt của thọ tưởng hành thức đúng như thật.

Ngài biết vô minh đúng như thật, biết tích tập của vô minh đúng như thật, biết chấm dứt của vô minh đúng như thật, và biết con đường để chấm dứt của vô minh đúng như thật.

Ngài biết tham ái đúng như thật, biết tích tập của tham ái đúng như thật, biết chấm dứt của tham ái đúng như thật, và biết con đường để chấm dứt của tham ái đúng như thật.

Ngài biết Thanh Văn đúng như thật, biết Pháp của Thanh Văn đúng như thật, biết tích tập của Thanh Văn đúng như thật, và biết tịch diệt của Thanh Văn đúng như thật.

Ngài biết Độc Giác đúng như thật, biết Pháp của Độc Giác đúng như thật, biết tích tập của Độc Giác đúng như thật, và biết tịch diệt của Độc Giác đúng như thật.

Ngài biết Bồ-tát đúng như thật, biết Pháp của Bồ-tát đúng như thật, biết tích tập của Bồ-tát đúng như thật, và biết tịch diệt của Bồ-tát đúng như thật.

Làm sao ngài biết những việc ấy? Ngài biết hết thảy những gì tạo tác bởi nhân duyên của các hành khởi sanh từ nghiệp báo là hư giả, rỗng không, chẳng thật có, chẳng phải chính mình, và chẳng phải kiên cố. Ngài biết không một chút pháp nào mà có thể được thành lập. Vì muốn khiến chúng sanh biết thật tánh của chúng, ngài rộng tuyên nói cho họ.

Ngài thuyết giảng những gì cho họ? Ngài thuyết giảng các pháp chẳng thể hủy hoại.

Các pháp nào chẳng thể hủy hoại?
- sắc chẳng thể hủy hoại,

- thọ tưởng hành thức chẳng thể hủy hoại,

- vô minh chẳng thể hủy hoại,

- Pháp của Thanh Văn, Pháp của Độc Giác, và Pháp của Bồ-tát chẳng thể hủy hoại.


Vì sao thế? Bởi tất cả pháp chẳng có sự làm ra. Do chẳng có người làm ra nên không có lời nói, không có xứ sở, không sanh, không khởi, không ban cho, không nắm giữ, không dao động, không chuyển biến, và không tác dụng.

Bồ-tát thành tựu tạng của trí tuệ vô lượng như thế. Với một chút phương tiện, ngài rõ hết thảy pháp, tự nhiên minh đạt, và tự mình giác ngộ mà chẳng nhờ người khác.

Tạng của trí tuệ vô tận này do có mười loại không bao giờ hết nên nói là vô tận. Những gì là mười? Đó là:

- bởi vì đa văn thiện xảo mà không bao giờ hết;

- bởi vì gần gũi Thiện Tri Thức mà không bao giờ hết;

- bởi vì khéo phân biệt câu văn và ý nghĩa mà không bao giờ hết;

- bởi vì vào Pháp Giới thâm sâu mà không bao giờ hết;

- bởi vì trang nghiêm với một vị của sự hiểu biết mà không bao giờ hết;

- bởi vì tu tập tất cả phước đức với tâm chẳng hề mệt mỏi mà không bao giờ hết;

- bởi vì vào cánh cổng của hết thảy Tổng Trì mà không bao giờ hết;

- bởi vì có thể phân biệt ngôn ngữ và âm thanh của hết thảy chúng sanh mà không bao giờ hết;

- bởi vì có thể đoạn trừ nghi ngờ và si mê của tất cả chúng sanh mà không bao giờ hết;

- bởi vì hiện ra thần lực của hết thảy chư Phật cho tất cả chúng sanh để giáo hóa điều phục và khiến họ tu hành chẳng gián đọan mà không bao giờ hết.


Đây là mười.

Đây gọi là tạng thứ bảy của đại Bồ-tát: Trí Tuệ Tạng.

Những ai trụ ở tạng này sẽ được trí tuệ vô tận và có thể khai ngộ hết thảy chúng sanh ở mọi nơi.

❖


Phật tử! Thế nào là Chánh Niệm Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này lìa bỏ si mê và được cụ túc niệm. Ngài nhớ lại 1 đời, 2 đời, cho đến 10 đời, 100 đời, 1.000 đời, 100.000 đời, và vô lượng trăm ngàn đời ở quá khứ.

Ngài nhớ lại các kiếp của thành lập, các kiếp của hoại diệt, các kiếp của thành lập cùng hoại diệt, chẳng phải một nhóm kiếp của thành lập, chẳng phải một nhóm kiếp của hoại diệt, chẳng phải một nhóm kiếp của thành lập cùng hoại diệt, 100 kiếp, 1.000 kiếp, 1.000 tỷ nayuta [na du ta] kiếp, cho đến vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, và bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.

Ngài nhớ lại danh hiệu của một vị Phật và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết danh hiệu của chư Phật.

Ngài nhớ lại một vị Phật xuất hiện ở thế gian thuyết Pháp thọ ký và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất hiện ở thế gian thuyết Pháp thọ ký.

Ngài nhớ lại một vị Phật xuất hiện ở thế gian để thuyết giảng Khế Kinh và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất hiện ở thế gian để thuyết giảng Khế Kinh. Như việc nhớ lại thuyết giảng Khế Kinh, thì Ứng Tụng, Ký Biệt, Phúng Tụng, Tự Thuyết, Duyên Khởi, Thí Dụ, Bổn Sự, Bổn Sanh, Phương Quảng, Hy Pháp, và Luận Nghị thì cũng như vậy.

Ngài nhớ lại chi tiết của một chúng hội và cho đến chi tiết của bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội.

Ngài nhớ lại diễn giải của một pháp và cho đến diễn giải của bất khả thuyết bất khả thuyết pháp.

Ngài nhớ lại đủ mọi tánh liên hợp với một căn và cho đến đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết căn.

Ngài nhớ lại vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với một căn và cho đến vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết căn.

Ngài nhớ lại đủ mọi tánh liên hợp với một phiền não và cho đến đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết phiền não.

Ngài nhớ lại đủ mọi tánh liên hợp với một Đẳng Trì và cho đến đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết Đẳng Trì.

Chánh niệm này có mười loại. Đó là:

[1] niệm tịch tĩnh
[2] niệm thanh tịnh
[3] niệm không ô trược
[4] niệm minh triệt
[5] niệm lìa trần cảnh
[6] niệm lìa đủ mọi trần cảnh
[7] niệm lìa cấu nhiễm
[8] niệm chói chang
[9] niệm đáng yêu thích
[10] niệm không chướng ngại

Khi Bồ-tát trụ ở chánh niệm này, tất cả thế gian đều chẳng thể nhiễu loạn ngài và tất cả dị luận đều chẳng thể biến động. Hết thảy căn lành của ngài ở những đời trước đều được thanh tịnh. Đối với các pháp thế gian, tâm ngài không hề nhiễm trước. Chúng ma và ngoại đạo đều chẳng thể hủy hoại ngài. Khi chuyển thân thọ sanh, ngài không hề quên mất một điều gì. Dù là quá khứ, hiện tại, cùng vị lai, thì sự thuyết Pháp của ngài là vô tận. Trong tất cả thế giới, tuy ngài đồng trú với chúng sanh nhưng chưa từng có lỗi lầm. Ngài vào chúng hội ở Đạo Tràng của hết thảy chư Phật mà chẳng có chướng ngại. Ở tất cả chỗ của Phật, ngài đều được thân cận.

Đây gọi là tạng thứ tám của đại Bồ-tát: Chánh Niệm Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Văn Trì Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này ghi nhớ các Kinh của chư Phật đã thuyết giảng và không bao giờ quên mất câu văn cùng nghĩa lý. Ngài ghi nhớ chúng một đời và cho đến ghi nhớ chúng suốt bất khả thuyết bất khả thuyết đời.

Ngài ghi nhớ danh hiệu của một vị Phật và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết danh hiệu của chư Phật.

Ngài ghi nhớ một kiếp số và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp số.

Ngài ghi nhớ Pháp thọ ký của một vị Phật và cho đến Pháp thọ ký của bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật.

Ngài ghi nhớ một Khế Kinh và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết Khế Kinh.

Ngài ghi nhớ chi tiết của một chúng hội và cho đến chi tiết của bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội.

Ngài ghi nhớ diễn giải của một pháp và cho đến diễn giải của bất khả thuyết bất khả thuyết pháp.

Ngài ghi nhớ vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với một căn và cho đến vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết căn.

Ngài ghi nhớ đủ mọi tánh liên hợp với một phiền não và cho đến đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết phiền não.

Ngài ghi nhớ đủ mọi tánh liên hợp với một Đẳng Trì và cho đến đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết Đẳng Trì.

Phật tử! Tạng văn trì này là vô biên, khó mà rót đầy, khó đạt đến đáy, khó được thân cận, không thể chế phục, vô lượng vô tận, và trọn đủ uy lực lớn. Nó là cảnh giới của Phật và chỉ Phật mới có thể rõ.

Đây gọi là tạng thứ chín của đại Bồ-tát: Văn Trì Tạng.

❖


Phật tử! Thế nào là Biện Tài Tạng của đại Bồ-tát?

Vị Bồ-tát này có trí tuệ thâm sâu, biết rõ thật tướng, và rộng diễn nói các pháp cho chúng sanh mà chẳng trái ngược với Kinh điển của tất cả chư Phật.

Ngài thuyết giảng một loại pháp và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết loại pháp.

Ngài thuyết giảng danh hiệu của một vị Phật và cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết danh hiệu của chư Phật.

Cũng như vậy,
- ngài thuyết giảng một thế giới,

- thuyết giảng Pháp thọ ký của một vị Phật,

- thuyết giảng một Khế Kinh,

- thuyết giảng chi tiết của một chúng hội,

- thuyết giảng một pháp,

- thuyết giảng vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với một căn,

- thuyết giảng vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với một phiền não,

- thuyết giảng vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với một Đẳng Trì,

- và cho đến thuyết giảng vô lượng đủ mọi tánh liên hợp với bất khả thuyết bất khả thuyết Đẳng Trì.


Ngài thuyết giảng suốt 1 ngày,
- hoặc thuyết giảng suốt nửa tháng,

- hoặc thuyết giảng suốt 1 tháng,

- hoặc thuyết giảng suốt 100 năm,

- hoặc thuyết giảng suốt 1.000 năm,

- hoặc thuyết giảng suốt 100.000 năm,

- hoặc thuyết giảng suốt 1 kiếp,

- hoặc thuyết giảng suốt 100 kiếp,

- hoặc thuyết giảng suốt 1.000 kiếp,

- hoặc thuyết giảng suốt 100.000 kiếp,

- hoặc thuyết giảng suốt 1.000 tỷ nayuta kiếp,

- hoặc thuyết giảng suốt vô số, vô lượng, và thậm chí bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.

Ngài có thể thuyết giảng cho đến hết kiếp số đó, nhưng nghĩa lý liên hợp với một văn từ hay một câu thì khó mà hết được.

Vì sao thế? Bởi vị Bồ-tát này đã thành tựu mười loại tạng vô tận.

Khi đã thành tựu các tạng này, ngài được Cánh Cổng Tổng Trì của Nhiếp Thọ Tất Cả Pháp. Nó hiện ra ở trước ngài và có một triệu vô số Tổng Trì làm quyến thuộc. Khi đã được Tổng Trì này, ngài dùng ánh sáng của Pháp để rộng diễn nói Pháp cho chúng sanh.

Khi thuyết giảng Pháp, ngài dùng lưỡi rộng dài mà vang ra âm thanh vi diệu tràn khắp tất cả thế giới trong mười phương. Ngài tùy theo căn tánh của hữu tình mà đều khiến họ mãn túc và lòng được hoan hỷ. Ngài diệt trừ cấu nhiễm của hết thảy phiền não đang quấn siết họ. Ngài khéo vào tất cả âm thanh, ngôn ngữ, và văn tự biện tài để khiến mạng mạch của Phật không bị đứt đoạn ở trong hết thảy chúng sanh. Với tâm thanh tịnh liên tục, ngài cũng dùng ánh sáng của Pháp mà diễn nói Pháp chẳng có cùng tận và không sanh mệt mỏi.

Vì sao thế? Bởi vị Bồ-tát này đã thành tựu thân vô biên đạt đến tận cùng hư không và toàn bộ Pháp Giới.

Đây gọi là tạng thứ mười của đại Bồ-tát: Biện Tài Tạng.

❖


Tạng này là không có cùng tận, không phân đoạn, không gián đoạn, không đứt đoạn, không thay đổi, không trở ngại, không thoái chuyển, thậm thâm không đáy, và khó có thể vào được. Tuy nhiên, nó có thể vào khắp tất cả cánh cổng của Phật Pháp.

Phật tử! Đây là mười loại tạng vô tận mà có mười loại Pháp vô tận để khiến chư Bồ-tát cứu cánh thành tựu Đạo vô thượng. Những gì là mười? Đó là:

- bởi vì họ lợi ích hết thảy chúng sanh;

- bởi vì họ khéo dùng bổn nguyện để hồi hướng;

- bởi vì họ duy trì chẳng đoạn tuyệt trong tất cả kiếp;

- bởi vì tâm họ vô hạn khi đều khai ngộ mọi thứ khắp tận cùng cõi giới hư không;

- bởi vì họ hồi hướng về hữu vi mà chẳng chấp trước;

- bởi vì họ đạt đến cảnh giới chỉ một niệm mà bao gồm vô tận hết thảy pháp;

- bởi vì tâm đại nguyện của họ không thay đổi;

- bởi vì họ khéo nhiếp thủ các Tổng Trì;

- bởi vì họ được tất cả chư Phật hộ niệm;

- và bởi vì họ thấu rõ hết thảy pháp đều như huyễn.


Đây là mười loại Pháp vô tận mà có thể khiến tất cả mọi việc trên thế gian đều được cứu cánh đến tạng lớn vô tận."

Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm ♦ Hết quyển 21


Dịch sang cổ văn: Pháp sư Hỷ Học (652-710)
Dịch sang tiếng Việt: Tại gia Bồ-tát giới Thanh tín nam Nguyên Thuận
Dịch nghĩa: 14/7/2024 ◊ Cập nhật: 10/10/2026

☸ Cách đọc âm tiếng Phạn

nayuta: na du ta
Đang dùng phương ngữ: Bắc ◈Nam